Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013

Phòng, chống "diễn biến hòa bình"



 

"Phi chính trị hóa lực lượng vũ trang là mắc kế địch"

Báo điện tử Dân Việt giới thiệu bài viết của Trung tướng, phó giáo sư - tiến sỹ Tô Lâm, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an, góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 với nhan đề:
"Cơ sở khoa học của các quy định về lực lượng vũ trang nhân dân
trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992"

Chế định bảo vệ Tổ quốc là một vấn đề quan trọng trong lịch sử lập hiến của Nhà nước. Tất cả các bản Hiến pháp của Nhà nước Việt Nam từ trước đến nay (Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992) đều quy định nội dung: Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng của mọi công dân Việt Nam.
Dư luận trong và ngoài nước đã và đang đặc biệt quan tâm bình luận về các nội dung của dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trong đó có nội dung quy định về Bảo vệ Tổ quốc, nhất là về bản chất, vai trò, vị trí, chức năng của lực lượng vũ trang nhân dân. Xung quanh vấn đề này, còn có các ý kiến khác nhau, nhưng tựu chung lại có hai loại ý kiến sau:
1_ Thống nhất, tán thành các nội dung quy định về lực lượng vũ trang mà dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 thể hiện; khẳng định sự cần thiết quy định về bản chất cách mạng, tính chính trị của lực lượng vũ trang - trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ Xã hội chủ nghĩa.
2_ Không cần thiết quy định cụ thể như sửa đổi Hiến pháp năm 1992 về lực lượng vũ trang; cần phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, cũng như cần thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng, xóa bỏ quy định về sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam với Nhà nước và xã hội.

Để góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quy định về lực lượng vũ trang nhân dân trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, xin được trao đổi một số vấn đề sau:
1_ Vai trò, vị trí của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam nhìn từ góc độ lịch sử Việt Nam chúng ta có lịch sử dựng nước gắn liền với giữ nước qua hàng ngàn năm - là quốc gia thường xuyên phải đấu tranh khốc liệt để bảo vệ không gian sinh tồn trước các âm mưu xâm lược và cai trị từ bên ngoài. Cùng với việc huy động sức mạnh toàn dân, thực hiện kháng chiến toàn dân khi đất nước bị xâm lăng với phương châm "giặc đến nhà đàn bà cũng đánh," thì việc tổ chức các lực lượng vũ trang chuyên nghiệp, chủ lực để đối phó với kẻ thù bên ngoài và đảm bảo an ninh trật tự xã hội trong nước luôn là một trong những vấn đề có tính chiến lược, căn bản mà các nhà lãnh đạo, các triều đại từ xưa đến nay đều phải thực hiện. Có thể nói, bài học lịch sử về dựng nước phải đi đôi với giữ nước, xây dựng, phát triển đất nước phải đi liền, gắn chặt với bảo vệ Tổ quốc còn vẹn nguyên giá trị. Vì vậy, dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đưa các quy định về bản chất, mục tiêu, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nhân dân trong chế định Bảo vệ Tổ quốc là có cơ sở lịch sử vững chắc, là sự kế thừa và khẳng định những giá trị được chính thực tiễn vận động và phát triển trong suốt chiều dài lịnh sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam kiểm nghiệm.

2_ Bản chất, vai trò lực lượng vũ trang dưới góc độ tổ chức quyền lực chính trị và bảo vệ quyền lực chính trị. Sự hình thành, tồn tại và phát triển của mỗi chính thể, mỗi chế độ xã hội luôn gắn với hệ tư tưởng-chính trị và các thiết chế tương ứng của lực lượng tiên tiến, quyết định đến sự vận động, biến đổi của xã hội trong những giai đoạn lịch sử ở mỗi quốc gia nhất định. Chính thể Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình thành, phát triển gắn với Chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Hệ tư tưởng của giai cấp vô sản phát huy vai trò cách mạng trong xã hội Việt Nam với thiết chế tương ứng là Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng với các tổ chức khác thuộc hệ thống chính trị của đất nước. Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là một trong những yếu tố cấu thành của tổ chức quyền lực nhà nước, có vai trò vô cùng quan trọng để bảo vệ chính thể, bảo vệ quyền lực nhà nước, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Hiến pháp là đạo luật cơ bản, thể hiện tập trung ý chí, nguyện vọng của lực lượng lãnh đạo xã hội và của toàn dân, cần thiết có quy định những nội dung về bảo vệ Tổ quốc và các lực lượng vũ trang nhân dân.

3_ Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, giáo dục, rèn luyện; quá trình chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của lực lượng vũ trang nhân dân luôn gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bản chất cách mạng, tính chính trị của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là tất yếu, phù hợp thực tiễn cách mạng Việt Nam. Mỗi quốc gia, dân tộc, trong tiến trình vận động, phát triển phải tuân theo những quy luật khách quan của xã hội, phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, đặc thù của đất nước. Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là lực lượng vũ trang cách mạng, là một trong những lực lượng, công cụ trọng yếu để đảm bảo thực hiện chuyên chính vô sản. Tính chính trị, bản chất giai cấp, tính Đảng của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam không phải xuất phát từ ý chí chủ quan, một chiều của Đảng Cộng sản Việt Nam mà nó được quy định bởi chính thực tiễn vận động của cách mạng Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ IX đến nay. Điều này có thể khái quát trên các bình diện cơ bản sau:
Thứ nhất, sự ra đời, phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam và vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội, trong đó có lực lượng vũ trang là sự lựa chọn duy nhất đúng của lịch sử dân tộc, phù hợp tình hình Việt Nam. Thực tế lịch sử cho thấy, từ cuối thế kỷ IX đến đầu thế kỷ XX, chế độ Phong kiến Việt Nam suy tàn, thực dân Pháp xâm lược, đô hộ Việt Nam. Các phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa theo xu hướng phong kiến hay dân chủ tư sản lúc bấy giờ như phong trào Cần Vương, phong trào Duy Tân, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục… đều thất bại và theo đó, con đường cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ lâm vào tình trạng khủng hoảng. Sự thất bại của các phong trào yêu nước đó phản ánh rất nhiều vấn đề, trong đó có điểm mấu chốt là các lực lượng lãnh đạo thuộc giai cấp địa chủ phong kiến hay tư sản ở Việt Nam hoặc hệ tư tưởng lạc hậu, hoặc thực lực hạn chế, không có được đường lối cách mạng và các thiết chế đủ năng lực để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giải phóng dân tộc, đưa đất nước phát triển theo xu thế mới của thời đại. Sự truyền bá Chủ nghĩa Marx-Lenin của các lực lượng vô sản từ đầu thế kỷ XX vào Việt Nam mà tiên phong, tiêu biểu là Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân, kết hợp với phong trào yêu nước đã đặt ra nhu cầu tất yếu của sự ra đời của một tổ chức cách mạng vô sản. Sự ra đời của các tổ chức, sự lớn mạnh của các lực lượng, phong trào vô sản những năm 20 của thế kỷ XX mà đỉnh cao là sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 (hợp thành từ 3 tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn) đã thực sự chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối và tổ chức của cách mạng Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã giành những thắng lợi lịch sử, đưa dân tộc Việt Nam đi vào kỷ nguyên mới - độc lập dân tộc, tiến lên Chủ nghĩa xã hội. Sự khẳng định vai trò duy nhất lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam vì thế là sự lựa chọn của điều kiện thực tiễn đất nước, là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc.
Thứ hai, con đường cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên Chủ nghĩa Xã hội ở Việt Nam, như thực tiễn đã minh chứng chỉ có thể thành công bằng con đường đấu tranh bạo lực cách mạng. Muốn thực hiện bạo lực cách mạng phải kết hợp chính trị với quân sự và các mặt trận khác, trong đó không thể thiếu được mặt trận quân sự, không thể thiếu một lực lượng vũ trang do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Việc hình thành và phát triển một lực lượng vũ trang nhân dân, mang bản chất cách mạng, chịu sự lãnh đạo và tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, với Tổ quốc và nhân dân là nhu cầu tất yếu để thực hiện nhiệm vụ của cách mạng. Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam được Hồ Chí Minh, được Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập và chỉ đạo, trong suốt thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như sau này đã phát huy cao độ tinh thần cách mạng, hoàn thành tốt các nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng và chế độ Xã hội chủ nghĩa. Chỉ dưới sự chỉ đạo tập trung, thống nhất, với đường lối vũ trang cách mạng đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam mới có đủ bản lĩnh, năng lực là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc.
Vì vậy, tính chính trị, tính cách mạng, yêu cầu trung thành của lực lượng vũ trang với Đảng Cộng sản Việt Nam, với chế độ Xã hội chủ nghĩa, lực lượng vũ tranh chịu sự lãnh đạo của Đảng là vấn đề đặc biệt quan trọng để đảm bảo sức mạnh, đảm bảo thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ cao cả của lực lượng vũ trang trong mọi hoàn cảnh. Việc dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 quy định rõ về bản chất chính trị, vai trò, nhiệm vụ trọng tâm của lực lượng vũ trang trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là phù hợp. Quy định này là cơ sở pháp lý cao nhất để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, từng bước hiện đại đáp ứng tốt mọi yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đảm bảo an ninh quốc gia trước mắt và lâu dài.
Thứ ba, tình hình quốc tế và khu vực đang diễn biến phức tạp; bất ổn chính trị xã hội, lật đổ chế độ, thay đổi thiết chế lãnh đạo đất nước do mâu thuẫn trong nước và tác động từ bên ngoài dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền… đã và đang diễn ra ở nhiều nơi (như ở Bắc Phi, Trung Đông)… Các thế lực thù địch, các lực lượng phản động lợi dụng tình hình đó đẩy mạnh chiến lược "Diễn biến hoà bình," tác động vào bên trong nhằm chuyển hóa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Một trong những vấn đề được các thế lực thù địch tập trung tấn công là tìm mọi cách để thâm nhập nội bộ, hướng lái chính sách, pháp luật hòng phi chính trị hóa, phi đảng phái hóa lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Việt Nam, tách các lực lượng vũ trang này ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm suy yếu, biến chất lực lượng vũ trang và tước đi công cụ trọng yếu của Đảng, của Nhà nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp bảo vệ chế độ, bảo vệ thành quả của cách mạng.
Vì vậy, nếu đặt vấn đề Hiến pháp mới quy định phi chính trị hóa lực lượng vũ trang sẽ mắc phải đúng mưu kế tác động của các thế lực thù địch đối với đất nước, với chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tuy nhiên, cần lưu ý, không phải bất cứ ý kiến, quan điểm nêu ra về vấn đề phi chính trị hóa lực lượng vũ trang nào cũng xuất phát từ ý đồ xấu, âm mưu đen tối nêu trên. Thực tiễn do nhiều nguyên nhân, như chưa đánh giá đúng tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội của đất nước và thế giới, chưa hiểu rõ căn nguyên lịch sử, hoàn cảnh cụ thể của việc xác định tính chính trị của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam hoặc do tác động của các luận điều tuyên truyền tiêu cực, một chiều… nên có những ý kiến đồng tình với quan điểm phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, so sánh vấn đề này ở Việt Nam với một số nước phương Tây khác. Vấn đề này đòi hỏi chính hệ thống chính trị của chúng ta, các cơ quan làm công tác tư tưởng, tuyên truyền của Đảng, Nhà nước cần tăng cường công tác thông tin, truyên truyền liên quan lĩnh vực này, làm cho cán bộ và nhân dân hiểu rõ, nhận thức đúng vấn đề, đồng thời nâng cao ý thức cảnh giác của toàn dân trước các âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng việc góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 nhằm tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng, gây bất ổ định chính trị, xã hội của đất nước.

4_ Bài học từ việc phi chính trị hóa lực lượng vũ trang ở một số nước - Hệ thống Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô cũ và Đông Âu sụp đổ vào những thập niên 80 và 90 của thế kỷ trước có rất nhiều nguyên nhân, trong đó có việc "cải tổ" xóa bỏ quy định của pháp luật về vai trò lãnh đạo nhà nước, xã hội của Đảng Cộng sản, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang.
- Hiện nay, ở một số nước, đặc biệt ở các nước mà điều kiện kinh tế xã hội, dân trí chưa phát triển ở trình độ cao và đồng đều, sự tồn tại nhiều đảng phái chính trị, thực hiện phi chính trị hoá lực lượng vũ trang đang phải vật lộn, đối mặt với tình trạng mâu thuẫn, xung đột và bất ổn chính trị, xã hội gia tăng, thậm chí tạo nên sự hỗn loạn trong xã hội. Thực tiễn này có thể thấy rõ ở các "mô hình dân chủ" được phương Tây hết sức cổ vũ, ủng hộ, đã và đang được "thiết kế," "tạo dựng" ở nhiều nước thuộc khu vực Đông Âu, SNG và đặc biệt là ở khu vực Bắc Phi, Trung Đông, thông qua các cuộc "cách mạng màu," hay phong trào "Mùa xuân Arập" trong thời gian qua. Bên cạnh đó, một số nước trong khu vực Đông Nam Á, như Thái Lan, Campuchia cũng thực hiện phi chính trị hóa (thực chất là đa chính trị hóa, đa đáng phái hóa) lực lượng vũ trang cũng gặp phải không ít trở ngại trong việc đảm bảo đoàn kết, thống nhất nội bộ, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ công dân…
Những hậu quả tiêu cực từ xu hướng phi chính trị hoá lực lựng vũ trang như nêu trên là bài học to lớn cho quá trình xây dựng, sửa đổi Hiến pháp và pháp luật ở Việt Nam chúng ta. Một trong những mục tiêu căn bản của sửa đổi Hiến pháp 1992 là đảm bảo ổn định chính trị xã hội, góp phần bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước ta phát triển bền vững theo con đường cách mạng Xã hội chủ nghĩa.
Vì vậy, Hiến pháp cũng như các đạo luật khác liên quan, không thể quy định phi chính trị hóa lực lượng vũ trang nhân dân; lực lượng vũ trang nhân dân không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trên đây là một số ý kiến về cơ sở của việc quy định về lực lượng vũ trang nhân dân trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và luận giải vì sao không thể đưa vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 các quy định liên quan đến vấn đề phi chính trị hóa lực lượng vũ trang nhân dân./.


Vietbao.vn (Theo TTXVN)


 


Góp ý hay chống phá ?
Một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng lấy ý kiến của nhân dân vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, đang được toàn Đảng, toàn dân ta hưởng ứng sôi nổi với ý thức trách nhiệm cao. Lấy ý kiến đóng góp vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là công việc rất hệ trọng. Bởi vậy, tại buổi làm việc với lãnh đạo TP Hà Nội của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 ngày 27-2 vừa qua, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã chỉ rõ: Việc lấy ý kiến người dân phải “vừa sâu, vừa rộng...”. Đi kèm với đó, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng yêu cầu cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể cần nêu cao tinh thần cảnh giác, ý thức tự “đề kháng”, năng lực phản bác của nhân dân trong cuộc đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch...
Sở dĩ phải đặt vấn đề như vậy là vì hiện nay đang có một số phần tử cơ hội chính trị, được các thế lực thù địch phản động tiếp sức đang lợi dụng công việc quan trọng này để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Những quan điểm sai trái, những luận điệu phản động được họ soạn thảo thành những tài liệu xấu mạo danh, nặc danh, thậm chí họ còn soạn ra hẳn một dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 khác với Bản dự thảo Hiến pháp duy nhất do Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của Quốc hội công bố tổ chức lấy ý kiến nhân dân… phát tán trên internet nhằm kích động, lôi kéo người dân; lợi dụng việc đóng góp vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp để xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng, Nhà nước. Nội dung mà họ tập trung là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (đòi bỏ Điều 4 trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp); “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, họ cho rằng: “lực lượng vũ trang phải trung lập”; lực lượng vũ trang chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam hay với bất kỳ tổ chức nào…
Đó là những luận điểm hết sức sai trái và không thể chấp nhận. Thực tế đòi hỏi các cơ quan chức năng cùng với việc quan tâm tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân nghiên cứu; thể hiện rõ quan điểm, thái độ, ý kiến đồng tình hay không đồng tình của mình đối với từng điều khoản trong dự thảo, cần đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền cung cấp cho người dân đầy đủ thông tin, định hướng để người dân hiểu đúng mục đích, ý nghĩa của công việc hệ trọng này, giúp người dân nâng cao tinh thần cảnh giác, phát hiện, đấu tranh kịp thời với mọi tư tưởng, quan điểm sai trái, không vì mục đích xây dựng đại cục mà theo đuổi động cơ, mục đích cá nhân để chống phá Đảng và Nhà nước ta. Trong việc tổng hợp và ghi nhận các ý kiến đóng góp của các tập thể, cá nhân, các cơ quan chức năng cần có sự nhìn nhận, đánh giá, phân tích kỹ lưỡng, thận trọng, tuyệt đối không để kẻ xấu lợi dụng việc góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp để thực hiện các mục đích cá nhân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đồng thời, các lực lượng chức năng cần có biện pháp xử lý kịp thời, nghiêm minh những hành động tán phát tài liệu xấu, mạo danh, nặc danh, lợi dụng việc lấy ý kiến nhân dân vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp để xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

KIM THANH
QĐND - Thứ Tư, 06/03/2013


 


Quân đội trung lập về chính trị: Đừng mơ hồ
Trong lịch sử nhân loại, quân đội chưa bao giờ là một lực lượng xã hội tự lập, đương nhiên quân đội cũng không phải là một nhánh quyền lực. ở quốc gia nào cũng vậy, quân đội luôn luôn gắn với lực lượng chính trị cầm quyền. Trong thời bình và trong chiến tranh chống xâm lược, chức năng của quân đội, sứ mệnh của quân đội là bảo vệ Tổ quốc (bao hàm cả bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội hiện hữu), sự toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất đất nước. Để có thể làm tròn được chức năng đó, quân đội phải đặt dưới sự lãnh đạo của lực lượng cầm quyền nhằm bảo vệ chế độ, bảo vệ nhà nước và do đó cũng chính là bảo vệ lực lượng cầm quyền. 
Đối với dân tộc ta, Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng những là người khai sinh mà còn là người rèn luyện, giáo dục quân đội, là người đề ra đường lối quân sự cách mạng, thống lĩnh các lực lượng vũ trang. Trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng không chỉ là người lãnh đạo, chỉ đạo phối hợp các mặt trận đấu tranh, quân sự, chính trị, ngoại giao mà còn là người chỉ đạo chiến lược, trực tiếp chỉ đạo quân đội ta trong những cuộc tiến công, những chiến dịch lớn như: Điện Biên Phủ, Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; "Điện Biên Phủ trên không", Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975...
Trong các xã hội hiện đại, không có quốc gia nào không do một đảng chính trị lãnh đạo cầm quyền. Và không có quân đội nào không gắn với đảng chính trị cầm quyền. Ở một số quốc gia, quân đội còn tuyên thệ trung thành với người đứng đầu nhà nước (đương nhiên cũng là người đứng đầu đảng chính trị cầm quyền). Trong các cuộc khủng hoảng chính trị, xã hội, quân đội luôn luôn là đối tượng của các lực lượng chính trị tranh thủ, lôi kéo nhằm biến quân đội thành công cụ giành và giữ chính quyền. ở nhiều quốc gia, khởi đầu của các cuộc đảo lộn xã hội là những cuộc binh biến. Nếu đi sâu nghiên cứu thì ở các quốc gia đó, trong hoặc đằng sau quân đội, lực lượng làm đảo chính vẫn là những tổ chức chính trị, những đảng chính trị đang hoạt động... Tiếp đó là sự can thiệp của những lực lượng chính trị từ bên ngoài vì lý do "dân chủ", “nhân quyền” chẳng hạn, nhằm định hướng cuộc binh biến theo các giá trị mà người ta mong đợi. Đó là một mẫu kịch bản đảo lộn chính trị hoặc cách mạng trong các xã hội hiện đại.
Trong thời đại ngày nay, các quốc gia - dân tộc không chỉ đối diện với tình huống của những cuộc chiến tranh xâm lược bằng lực lượng vũ trang chớp nhoáng từ bên ngoài mà còn phải đối diện với những cuộc chiến tranh “không khói súng”, những cuộc chiến tranh tư tưởng chính trị và cả pháp lý. Đó là thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và chiến tranh kinh tế - giành giật “biên giới mềm” của các thế lực thù địch phản động, kể cả những đối tác chuyển hóa thành đối tượng đấu tranh. Đó là những cuộc chiến tranh không còn theo nghĩa đen mà nhằm thay đổi chế độ xã hội hoặc thay đổi ê -kíp lãnh đạo, cầm quyền vì lợi ích kinh tế, chiếm đoạt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dầu lửa… Chính vì vậy mà trong các cuộc khủng hoảng xã hội, bạo loạn lật đổ ở các quốc gia ngày nay luôn có sự can thiệp của những lực lượng bên ngoài. Những lực lượng can thiệp này thường câu kết với những nhóm chính trị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, những tổ chức đối lập trong nước.
Ngày nay, chiến lược bảo vệ Tổ quốc không chỉ là xây dựng quân đội tinh nhuệ, bảo đảm vũ khí, trang bị hiện đại mà còn phải có Bộ tham mưu kiên định về chính trị, tuyệt đối trung thành với dân tộc, có khả năng đánh giá đúng tình hình, phân tích tình huống, không sa vào cạm bẫy, các thủ đoạn chính trị, quân sự xảo quyệt của đối phương. Điều này càng nói lên rằng để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân ngày nay, quân đội càng không thể nằm ngoài chính trị, không thể thoát ly sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng. 
Không phải ngẫu nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói chuyện nhân kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam đã nói: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” [1]
Cũng trong bài nói chuyện này, Người còn phân tích, sở dĩ quân đội ta phải trung với Đảng, hiếu với dân là vì quân đội ta “là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục” (tr. 345). 
Đặt trong bối cảnh chính trị quốc tế và trong nước hiện nay, Điều 70 của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 dựa trên nội dung chủ yếu câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói chuyện trên: “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế” là phù hợp, hơn nữa là cần thiết.
Tất nhiên trong bối cảnh chính trị quốc tế, khu vực và trong nước hiện nay, nội hàm sự trung thành có nội dung xác thực hơn. Sự trung thành với Đảng lúc này không còn mang nội dung chung chung nữa mà là trung thành với Cương lĩnh, đường lối của Đảng, kiên định mục tiêu và con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, thực hiện đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ… giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển” [2]. Trung thành với Đảng trong lúc này còn có nghĩa quân đội ủng hộ và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, chống lợi ích nhóm.
Lợi dụng việc lấy ý kiến nhân dân góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trên nhiều trang mạng hải ngoại, người ta đang tác động hướng chế độ ta sang chế độ “dân chủ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Thậm chí có kẻ còn nói thẳng ra rằng: Góp ý kiến không phải nhằm hoàn thiện văn bản mà là “một cơ hội” để tạo ra phong trào đấu tranh nhằm chuyển hóa từ một xã hội “độc tài đảng trị” sang chế độ "dân chủ”, “nhân quyền”... Trắng trợn hơn, có kẻ còn viết bài đặt câu hỏi với cán bộ, chiến sĩ quân đội rằng: “Các anh còn ngủ đến bao giờ?”... Đây thực chất là một lời kêu gọi lực lượng vũ trang ta phản loạn. 
Những ai có đôi chút kinh nghiệm chính trị hãy xem những ai, những tổ chức chính trị nào ở hải ngoại, cùng với các phương tiện thông tin nào, chẳng hạn như BBC, VOA, RFI…- mà mọi người có thể tiếp cận được, xem người ta đang cổ vũ cho việc xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp… để trả lời câu hỏi: Vì sao người ta muốn đưa Điều 4, nội dung cơ bản Điều 70 ra ngoài Hiến pháp năm 1992 sửa đổi.  
Cho dù xã hội ta còn nhiều vấn đề khiến cho cán bộ, đảng viên, nhân dân không hài lòng, thậm chí là bức xúc như tình trạng phân hóa giàu nghèo, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên như Hội nghị Trung ương 4 của Đảng đã chỉ ra, nhưng nếu lấy đó để phủ nhận những vấn đề có tính quy luật trong chính trị, cho rằng: “Lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào” hoặc “Quân đội là để bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc… không phải bảo vệ bất cứ một đảng phái nào” là hoàn toàn sai lầm về nhận thức… Về khách quan, điều đó, việc làm đó làm tổn hại đến lợi ích của đại đa số nhân dân, đến sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc của quân đội ta. 
Không phủ nhận rằng, Tổ quốc, đồng bào là phần “cứng”, là cái tồn tại vĩnh hằng của một quốc gia, dân tộc. Nhưng thử hỏi trên thế giới ngày nay, có tổ quốc nào, có dân tộc nào không tồn tại trong những điều kiện lịch sử cụ thể? Nói Tổ quốc, nhân dân trừu tượng, chung chung, thoát ly khỏi hoàn cảnh lịch sử cụ thể là thiếu hụt những kiến thức sơ đẳng về xã hội. Trên thế giới ngày nay, không có tổ quốc nào, nhân dân nào không gắn liền với một chế độ xã hội, một nhà nước cụ thể với một lực lượng chính trị lãnh đạo, cầm quyền. Chính vì vậy, có thể khẳng định: Trên thế giới ngày nay không có quân đội nào không đặt dưới sự lãnh đạo của đảng cầm quyền. Không ít quốc gia ngày nay quân đội còn “tuyên thệ trung thành” với Tổng thống, Chủ tịch nước, cũng chính là với lãnh tụ của đảng cầm quyền. Quan điểm cho rằng quân đội chỉ “phải trung thành với Tổ quốc”, không gắn với sự lãnh đạo của một đảng chính trị nào là mơ hồ, thoát ly thực tế, là xa lạ với lịch sử thế giới hiện đại và của chính lịch sử cách mạng Việt Nam.
Thiết tưởng quan điểm trên, nếu không phải là một sự ngây thơ về chính trị thì cũng là một sự ngụy biện, là sai lầm về khoa học và nguy hại về chính trị. Chưa bao giờ quân đội trung lập về chính trị được thực tiễn xác nhận. Sự khác nhau chỉ là ở chỗ người ta có nói và viết ra điều đó công khai hay không mà thôi. Còn làm thế nào để có được một chế độ xã hội, một đảng cầm quyền, một nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân lại là một chủ đề khác.

Lệ Chi - Vọng Đức
QĐND - Chủ Nhật, 17/03/2013

[1] - Hồ Chí Minh tuyển tập, NXB Sự thật, Hà Nội -1980, tập II, tr.345.
[2] -Văn kiện Đại hội XI, NXB Chính trị Quốc gia, 2011, tr.46





To Top Page Up Page Down To Bottom Auto Scroll Stop Scroll
Comments jQuery Recent Posts Ticker Widget